Em hãy thuật lại (kể lại) chiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung từ tối 30 tết đến ngày mùng năm tháng giêng

Nhà Tây Sơn gồm ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyền Lữ. Mỗi người xưng vương một miền. Nguyễn Huệ được mọi người gọi là Bắc Bình Vương. Trong thời kỳ đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam những nước ta; Lê Chiêu Thông nhận sắc phong của vua nhà Thanh là Nam Quốc Vương; Ngô Văn Sở cho quân rút lui về Tam Điệp nghĩa là nước ta mất hết đất từ cửa ải phía Bắc đến Thăng Long.

BÀI LÀM 1

Nhà Tây Sơn gồm ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyền Lữ. Mỗi người xưng vương một miền. Nguyễn Huệ được mọi người gọi là Bắc Bình Vương. Trong thời kỳ đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam những nước ta; Lê Chiêu Thông nhận sắc phong của vua nhà Thanh là Nam Quốc Vương; Ngô Văn Sở cho quân rút lui về Tam Điệp nghĩa là nước ta mất hết đất từ cửa ải phía Bắc đến Thăng Long. Nghe được tin cấp báo Bắc Bình Vương giận lắm. Biết là biến cố lớn, ông quyết định mở cuộc tấn công ra Bắc đại phá quân Thanh.

Ông cho họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay nhưng mọi người đến họp đều ngăn lại, xin ngài trước hết hãy chính vị hiệu; ban lệnh ấn xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phần trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau cất quân ra đánh dẹp cõi bắc là chưa muộn. Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn chơi đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi. Trội nghi lễ, ngài khoác lên mình chiếc áo long bào có thêu hình rồng uốn lượn lấp loáng, đầu ngài đội mũ miện, cổ đeo chuỗi hạt bằng ngọc, chân đi giầy vàng. Trông thật uy nghi và nghiêm trang bước lên đàn tế trời đất. Như cuốn: "Các triều đại Việt Nam" có viết: "Ngài là người có dung mạo đặc biệt. Tóc quăn, da Bầm, tiếng nói sang sảng như chuông, mắt sáng như chớp, có thể nhìn rồ mọi vật trong đêm tối" toát lên trên gương mặt ngài vẻ cương nghị, oai phong lẫm liệt và dù tướng "Không ai dám nhìn thẳng vào mặt ngài". Bắc Bình Vương lên ngôi hoàng đế đời năm thứ 11 niên hiệu Thái Đức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm năm đầu niên hiệu Quang Trung.

Lễ xong, hạ lệnh xuất quân, hôm ấy là ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788).

Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh cả thủy lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 9 đến Nghệ An, vua cho gọi Nguyễn Thiếp, một người có tài tiên đoán vào hỏi về mưu đánh giặc, có được thua. Được Nguyễn Thiếp, trả lời: chuyến này ra đi không quá mười ngày quân Thanh sẽ bị dẹp tan. Vua Quang Trung mừng lắm liền sai đại tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đỉnh thì lấy một người ai cũng có thân hình vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn, họ đều là những nông dân lực điền. Chưa mấy chốc đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ, hàng ngũ thẳng tắp, cờ trống rợp trời, giáo mác sắc nhọn sẵn sàng chiến đấu. Vua thì mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trại chia làm bốn doanh: tiền, hậu, tả, hữu là số quân ở Thuận Hoá, Quảng Nam còn số lính mới tuyển ở Nghệ An thì cho tam trung quân. Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính bằng khẩu dụ vang rõ, sang sảng đẩy hào khí trước ba quân, khẳng định niềm tin ý chí quyết thắng của quân đội chính nghĩa. Nghe xong các quân lính đều xin vâng lệnh, không dám hạ lòng.

Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các quân đều nghiêm chỉnh để ngủ mà đi. Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân đều ra đón, mang gươm trên kính mà xin chịu tội. Vua phân tích rõ công, tôi của Sở và Lân: "Giặc đến mà không đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước. Binh pháp dạy rằng: “Quân thua chém tướng” tội các người đều đáng chết một vạn lần", "Song ta nghĩ các người đều là hạng vô dụng, chỉ biết gặp giặc là đánh, đến như việc tùy cơ ứng biến thì cũng không có tài". Vì lẽ đó vua đã cho Ngô Thì Nhậm ở lại làm việc cùng Sở và Lân. Ngô Thì Nhậm bèn lạy hai lạy để tạ ơn. Vua Quang Trung Hải nói lần này phương lược tính sẵn rồi chẳng qua mười ngày có thể đuổi quân nhanh nhưng chúng gấp mười nước mình, thua đau sẽ trả thù thì đời sống nhân dân sẽ vô cùng khốn khổ vì nạn binh đao. Chờ mười năm nữa nước ta lớn mạnh có sợ gì chúng. Bọn Sở và Lân đều lạy ta, trong lòng vô cùng cảm kích trước sự vị tha độ lượng của vua Quang Trung.

Đêm 30 tháng chạp, vua cho mở tiệc khao quân linh đình, chia quân làm 3 đạo và bảo kín với các tướng đêm 30 lập tức lên đường hẹn ngày mùng 7 năm mới thì vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Giọng nói người sang sảng âm vang khắp quân lính. Trong bữa tiệc ai cũng vui mừng, vui hơi thở ở thích.

Đúng ngày, cả năm đạo quân đều vang lệnh, gióng trống lên đường ra Bắc. Để giữ sức chiến đấu cho binh lính vua cho dùng cáng làm võng cứ hai người khiêng một người ngủ, luân phiên đi suốt ngày đêm. Khi đến sông Gián, ai nấy đều mệt lử, áo quần lôi thôi, mặt mũi bơ phờ, người bám đầy bụi bặm do hành quân quá dài nhưng vì lòng yêu nước, nghĩ đến lời an ủi của vua, binh lính lại phấn chân, sẵn sàng chiến đấu. Nghĩa binh giặc trấn thủ ở đó tan vỡ chạy trước nháo nhác. Lúc đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi do thám tử đằng xa trông thấy bóng quân Tây Sơn cũng chạy nốt. Vua cho binh lính chạy theo bắt sống được hết vì vậy quân Thanh không hề có ai chạy về báo tin. Việc tiến quân của ta là hoàn toàn bí mật đến đồn Hà Hồi, Ngọc Hồi.

Nửa đêm ngày mồng 3 tháng giêng, năm Kỷ Dậu (1789), vua tới đồn ở làng Hà Hồi huyện Thượng Phúc lặng lỗ vây kín làng rồi dùng kế nghi binh bắc loa truyền gọi: "Quân!”. Tiếng quân lính luân phiên nhau: "Dạ...dạ!” vang khắp cả vùng trời để hưởng ứng nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy mới biết quân Tây Sơn đã vây kín bên ngoài, ai nấy run lẩy bẩy, rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng. Lương thực khí giới của giặc đều bị quân ta lấy hết.

Mờ sáng ngày 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi. Vua truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm là một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức, rồi kén hạng lính khỏe mạnh cứ mười người khiêng một bức lưng dắt dao ngắn. Hai mươi người khác dùng binh khí theo sau, dàn thành hàng ngang. Quân Thanh nổ súng bắn ra chẳng trúng người nào cả. Tiện có gió bắc chúng dùng súng phun khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách gang tấc không nhìn thấy gì cả lòng làm quân ta hoảng loạn. Không ngờ trời đột ngột trở gió nam, khói bay ngược lại, quân Thanh tự hại mình: Quân ta gấp rút khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo hai bên chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao ngắn chém giặc, những người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy toán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết lung tung, thay nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại.

Trước đó, vua Quang Trung đã sai một toán quân theo bờ đê Yên Duyên kéo lên, mở cờ gióng tráng để làm nghi binh ở phía Đông. Đến lúc ấy, quân Thanh! đều hết hồn vía, vội trốn xuống đầm Mực, làng Quỳnh Đô, quận Tây Sơn lùa voi cho giày đạp chết đến hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thống Long rồi kéo vào thành. Lại nói không nghe thấy tin cấp báo. Nên trong ngày tết mọi người chỉ chăm chú yến tiệc. Nào ngờ cuộc vui chưa tàn cơ trời đã đổi. Ngày mồng 4 bỗng thấy quân ở đồn Ngọc Hồi chạy về cấp báo. Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dẫn bọn lính kỵ mã chuồn trước qua cầu phao rồi nhằm hướng bắc mà chạy. Quân sĩ nghe tin hoảng hồn, tan tác bỏ chạy qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính rơi xuống nước đến nỗi nước sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa. Quân ta ôn mừng chiến thắng vô cùng giòn giã.

Chiến công đại phá quân Thanh đã chứng tỏ nước Nam là một nước mạnh mẽ, có chủ quyền độc lập. Công lao hàng đầu của chiến thắng đó thuộc về người anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ. Tưởng nhớ ngài với tới mưu lược, ý chí kiên cường đấu tranh, hàng năm, dân ta vẫn tổ chức lễ hội Đống Đa để ngợi ca công lao ông cha ta và ôn lại chiến thắng lịch sử hào hùng của dân tộc đã đại phá quân Thanh thần tốc.

 

BÀI LÀM 2

Nguyễn Huệ người anh hùng áo vải quê vốn ở Nghệ An, bị chúa Nguyễn bắt đưa vào đàng trong khai khẩn đất hoang, sau khi ra đàng ngoài Nguyễn Huệ tiến đánh Bắc Hà làm Lê Chiêu Thông rất lo lắng. Lại được tin: "Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà Thanh, Nguyễn Huệ giận lắm vì đến ngày 24 tháng 11 Nguyễn Văn Tuyết mới cấp báo cho Nguyễn Huệ về việc Tôn Sĩ Nghị mang quân Thanh vào xâm lược Thăng Long. Lê Chiêu Thống không ngờ được là ý định của mình là một ý định sai lầm"cõng rắn về cắn gà nhà" vì quân Thanh cũng muốn xâm lược nước ta từ trước nhưng thừa cơ hội này quân Thanh tiến ồ ạt sang nước ta. Lê Chiêu Thông nhận sắc phong vua nhà Thanh là Nam Quốc Vương Ngô Văn Sở rút lui về Tam Điềm. Trước biến cố đó Nguyễn Huệ quyết định lên làm vua và lấy niên hiệu là Quang Trung và mở cuộc tấn công ra bắc đại phá quân Thanh.

Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân 1788. Theo sử sách ghi lại trích trong "Các triều đại Việt Nam" có thể thấy rõ hơn được Nguyễn Huệ là một vị tướng tài: "Đây là người có dung mạo đặc biệt, tóc xoăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, đôi mắt sáng như chớp, có thể nhìn thấy mọi vật trong đêm tối, vẻ mặt của ông như toát lên một ý chí một cái đẹp oai phong, lẫm liệt.

Bấy giờ ở Phú Xuân vua Quang Trung cho kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất binh thì lấy một người, chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn giáo tinh nhuệ. Rồi nhà vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở Vĩnh Doanh (Nghệ An). Đến Thanh Hoá ông vẫn tiếp tục tuyển thêm binh lính và làm lễ tuyên thề. Trong lời dụ với các tướng sĩ, Quang Trung lẫm liệt và thể hiện rõ quyết tâm chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của đất nước, với ý chí hiên ngang, bất khuất với ánh mắt căm thù giặc, Quang Trung đã tuyên bố:

Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ

Sau đó Quang Trung cũng động viên tướng sĩ của mình với ý chí quyết tâm bằng giọng nói sang sảng, đầy hào khí, khẳng định niềm tin vào ý chí quyết thắng của đội quân chính nghĩa. Ra đến Tam Điệp Quang Trung đã phân rõ công tội của Sở và Lân qua lời “nói rất hào khí "Đinh pháp dạy rằng: "Quân thua chém tường" tội của các ngươi tuy đáng chết một vạn lần. Song ta nghĩ các người đều là hạng vô dụng, chỉ biết gặp giặc là đánh, nên việc tùy cơ ứng biến là không có tài" và ông khen ngợi kế sách tạm rút quân để bảo toàn lực lượng của Ngô Thì Nhậm và các tướng.

Vua Quang Trung bèn cai mở tiệc để khao quân, rồi vua bảo kín với các tướng sĩ: "Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cúng tết trước đã. Đến tối 30 tết lập tức lên đường, hẹn đến ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ đấy đừng cho ta là nói khoác".

Sau đó ông chia ra làm 5 đạo quân. Đạo chủ lực do Quang Trung trực tiếp, chỉ huy, thẳng hướng Thủy Long. Đạo thứ hai và thứ ba đánh vào Tây Nam Thành Long và yểm trợ cho đạo chủ lực. Đạo thứ tư tiến ra phía Hải Dương Đạo thứ năm tiến lên Lạng Giang - Bắc Giang, chặn đường rút lui của quân địch. Tiến thẳng đến thành Thăng Long. Để giữ sức cho quân lính để sức chiến đấu ông sai dùng cáng làm võng. Hai người khiêng một người nằm ngủ và cứ
thế luân phiên nhau đi suốt ngày đêm.

Đến đêm 30 tết âm lịch quân ta vượt sông Gián Khẩu, tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở đồn tiền tiêu, khí thế của quân ta càng lớn. Sau những ngày Quân Trung hành quân thần tốc, quân giặc tan vỡ tháo chạy nhưng không thoát, nên không báo được tin về việc tiến quân của quân ta là bí mật. Nửa đêm ngày mồng ba tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789) vua Quang Trung tới làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc. Ông đã sai binh sĩ vây kín làng rồi bắc loa truyền gọi tiếng quân lính dạ ra để hưởng ứng. Trong đất lúc ấy mới biết, rụng rời chân tay, liền xin hàng, nộp toàn bộ khí giới, lương thực. Lần này, trận đánh đất Ngọc Hồi rất quan trọng nên Quang Trung đã dùng mưu kế sai quân sĩ lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép 3 tấm thành một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức, rồi kén hạng lính khỏe mạnh cứ mười người khiêng một bức lưng giắt dao ngắn, hai mươi người cầm binh khí theo sau; dàn thành trận chữ nhất, mờ sáng ngày mùng năm quân ta tiến sát đồn Ngọc Hồi. Do có bức màn che quân Thanh bắn súng ta chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra, khói toả mù trời, cách gắng tấc không nhìn thấy gì hòng làm cho quân ta rối loạn. Nhưng nhờ trời trong chốc lát trời bỗng trở gió nam thành ra quân Thanh tự làm hại mình. Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau, ai ai đều rút dao ra chém bừa những người cầm binh khí theo sau cũng nhất loạt xông lên mà đánh Quân Thanh chống trả không được, bỏ chạy toán loạn giày xéo lên nhau mà chết. Tên giặc Thái thứ sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết. Quân ta thừa thế xông lên chém giết lung tung thấy nằm đầy đồng, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại.

Trưa mồng 5 tết Kỷ Dậu, vua Quang Trung trong bộ chiến bào xạm đen khói thuốc súng, cùng toàn quân chiến thắng tiến vào Thăng Long giữa muôn vàn tiếng reo hò của người dân và binh sĩ:

Ba quân đội ngũ chỉnh tề tiến đến,
Trăm họ chật đường vui tiếp nghênh

Có được thắng lợi to lớn trên trước hết là nhờ ý chí đấu tranh áp bức bóc lột và tinh thần yêu nước cấp cả của nhân dân ta. Tiếp đó dưới sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Quang Trung và bộ chỉ huy nghĩa quân đã góp phần quan trọng vào thắng lợi. Quang Trung là anh hùng dân tộc vĩ đại của dân ta ở thế kỷ XVIII. Lễ hội gò Đống Đa diễn ra hàng năm tưởng nhớ công ơn to lớn của vua Quang Trung, tinh thần quyết thắng của dân tộc ta.

LUYỆN TẬP

1. Em hãy viết đoạn văn ngắn kể ngắn gọn chương truyện, theo thứ tự của văn bản.

2. Hãy phân ra hai hệ thống tình tiết của truyện.

a) Diện mạo, hành vi tướng tá nhà Thanh.

b) . Hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ.

Hãy phân tích cái thế tương phản này để thấy chân dung hình tượng Quang Trung.

3. Hãy phân tích sự thảm bại của bọn xâm lược và số phận bi đát của lũ vua quan phong kiến hại dân.

4. Hãy phân tích nhân vật Quang Trung với tính cách của một vị anh hùng dân tộc qua các ý sau:

a) Nhận thức sáng suốt.

b) Ý chí quả quyết.

c) Tài điều binh khiển tướng.

d) Tái trù hoạch quân mưu.

5. Nhận xét giọng kể của tác giả và lấy tên tác phẩm để giải thích tại sao như thế.

6. Tại sao, tác giả là những người ăn lộc nhà Lê, viết sách với ý thức ca tụng nhà Lê mà lại viết rất thực và rất hay về Nguyễn Huệ - một tên giặc của chế độ Lê Triều?

7. “Hoàng Lê nhất thống chí" của Ngô gia văn phái, có thể nói cảm hứng yêu nước và tự hào dân tộc nhiều khi đã lấn át cả thái độ thiên vị với triều Lê. Điều đó đã mang lại những trang viết thực và hay.

Phân tích hồi thứ mười bốn của tác phẩm này để chứng minh nhận xét trên.

8. Có ý kiến cho rằng: “Hoàng Lê nhất thống chí” phản ánh một sự kiện lớn trong lịch sử nước ta nửa sau thế kỉ XVIII, cuộc chiến tranh xâm lược của bọn phong kiến phương Bắc và cuộc kháng chiến thắng lợi của dân tộc ta.

Bằng những hiểu biết của em về tác phẩm "Hoàng Lê nhất thống chí" hãy chứng minh ý kiến trên.

9. Phân tích giá trị hiện thực của các tác phẩm: “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” (trích “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ), “Hoàng Lê nhất thống chí” (Ngô gia văn phái).

Các bài học liên quan
Hãy phân tích đoạn thơ sau:  “Bỗng nhận ra hương ổi... Vắt nửa mình sang thu” (Hữu Thỉnh - Sang thu)
Giới thiệu về một món ăn.
Giới thiệu về một vật dụng
Giới thiệu về một nét văn hóa truyền thống.
Thuyết minh về cây bưởi.
Con trâu ở làng quê Việt Nam.
Thuyết minh về cây lúa.

Bài học nổi bật nhất

Đề thi lớp 9 mới cập nhật